Bạn đang truy cập: Trang chủ Thầy thuốc của bạn Tư vấn chữa bệnh

Tư vấn chữa bệnh

Figure 1 : Anatomie de la carotide

Hẹp động mạch cảnh và cách điều trị

Hẹp động mạch cảnh là gì ?

Động mạch cảnh nằm ở cổ (hình 1). đi vào não bộ để cung cấp oxy cần thiết để hoạt động .Nó có đường kính trung bình 4 mm. Động mạch này có thể bị chặn bởi sự xơ vữa (chất béo) trong thành của động mạch gây hẹp (giảm kích thước) (Hình 2).

Hình 1: Cấu tạo của động mạch cảnh

Hình 2: hẹp động mạch cảnh

Đột quỵ thiếu máu cục bộ là gì?

Đột quỵ thiếu máu cục bộ (đột quỵ) là kết quả của tình trạng thiếu oxy trong một phần của não. Nó có thể do từ nhiều nguyên nhân, kết quả của một huyết khối (tắc) của động mạch cảnh trong hoặc tắc mạch (di cư của một cục máu đông hoặc mảnh xơ vữa) từ hẹp động mạch cảnh . Trong cả hai trường hợp, một phần của não được ít tưới máu. Sẽ có tổn hại thần kinh (liệt) ít nhiều tương ứng với vùng não bị thiếu máu. Sự thiếu máu có thể ảnh hưởng đến toàn bộ bên của cơ thể (liệt nửa người) hoặc một phần (chi trên và chi dưới) cơ thể và đôi khi kết hợp với liệt mặt và / hoặc rối loạn ngôn ngữ. Sự tổn hại thần kinh là ở phía đối diện với tổn thương động mạch (tỏn thương phía bên phải của cơ thể trong một hẹp động mạch cảnh trái và ngược lại).

Đột quỵ có thể thoáng qua (thiếu máu cục bộ thoáng qua) nếu sự hồi phục trong vòng vài giờ. Nếu can thiệp điều trị sớm . Phục hồi sau đó được thực hiện trong một hơn hay ít hoàn thành trong vài tuần. Đôi khi để lại những di chứng đáng kể và lâu dài.

Trong một số trường hợp, ảnh hưởng đến khả năng tầm nhìn tắc động mạch võng mạc trung tâm, dẫn đến mất thị lực tạm thời hoặc vĩnh viễn. Trong trường hợp này mắt bị ảnh hưởng là cùng bên với tổn thương động mạch cảnh.

Tại Pháp, tỷ lệ đột quỵ hàng năm (số trường hợp mới mỗi năm) là 2/1000 dân (mọi lứa tuổi) với 15 đến 20% tử vong trong tháng đầu tiên và 75% sống sót bệnh nhân để lại di chứng. Tỷ lệ (tần số của bệnh trong dân số) là 5 / 1.000 dân (mọi lứa tuổi). Tuổi trung bình của khởi phát đột quỵ là 71 tuổi đối với nam và 76 tuổi đối với nữ và 25% nạn nhân bị đột quỵ là dưới 65. Những đột quỵ, 25% có liên quan đến tổn thương xơ vữa động mạch cảnh.

kiểm tra chính để phát hiện hẹp động mạch cảnh là gì?

Siêu âm Doppler là một kiểm tra đơn giản và không gây đau đớn mà đánh giá mức độ nghiêm trọng của hẹp động mạch cảnh.Đánh giá này sẽ được sử dụng để đo lường mức độ nghiêm trọng của hẹp bằng cách đánh giá tỷ lệ thu hẹp của động mạch.Điều này là rất quan trọng bởi vì nó sẽ xác định quá trình hành động vis-à-vis hẹp.Nếu hẹp là lớn hơn 60%, một Angio-CT thường xuyên hơn hoặc MR chụp động mạch sẽ được yêu cầu để phân tích chính xác hơn của hẹp động mạch cảnh.Các Angio-CT hoặc MR chụp động mạch sẽ xác định mức độ hẹp động mạch cảnh, phân tích não cho các động mạch khác và nhu mô não để đánh giá những hậu quả của hẹp của mạch máu não.

Các phương pháp điều trị chính là gì? Những rủi ro của các phương pháp điều trị là gì?

Các lựa chọn điều trị phụ thuộc vào hai tiêu chí chính: đánh giá mức độ hẹp tỷ lệ phần trăm và có triệu chứng hoặc không phải là hẹp. Các chỉ định điều trị cũng phụ thuộc vào hình thái của mảng bám xơ vữa động mạch cũng như các tiêu chí chung chung cho bất kỳ phẫu thuật (tuổi, bệnh tim, hô hấp vv ...). Các lựa chọn điều trị sẽ được với các bác sĩ phẫu thuật mạch máu trong một quyết định về lựa chọn điều trị thông tin khác nhau.

Điều trị nội khoa:

Cho hẹp động mạch cảnh, điều trị nội khoa kết hợp kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch và điều trị kháng tiểu cầu và statin (làm giảm cholesterol trong máu). Theo dõi điều trị được thực hiện bằng siêu âm duplex hoặc nửa năm một lần tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hẹp. Nếu hẹp là vừa phải, điều trị nội khoa là đủ đến giám sát thường xuyên.

Điều trị phẫu thuật:

Nếu hẹp động mạch cảnh nặng, điều trị tiêu chuẩn là phẫu thuật với thực hiện Bóc nội mạc cảnh (loại bỏ các mảng bám). Quy trình này có thể được thực hiện dưới gây mê toàn thân hoặc khu vực (gây tê cổ).Các bác sĩ phẫu thuật, sau khi một vết rạch dọc ở cổ, sẽ mở động mạch cảnh để loại bỏ các mảng bám (Hình 3-4) và sau đó hoặc đóng động mạch trực tiếp (eversion khâu trực tiếp) (Hình 5-6) được khâu vá (mỗi giả cụ thể) (hình 7) để mở rộng động mạch. Trong một số trường hợp, nó có thể là cần thiết để thay thế cho phẫu thuật bắc cầu động mạch (hình 8). Thời gian của sự can thiệp là trên trung bình 1-2 giờ. Để bảo vệ não, kỹ thuật khác nhau được sử dụng trong quá trình phẫu thuật. Giám sát tác bài có thể được thực hiện trong một dịch vụ giám sát trong 24 giờ. Thời gian lưu trú của thay đổi tùy theo trung tâm của dãy phòng phẫu thuật trước nhà nước và sau khi mổ. Nó là trung bình 4-6 ngày.

Hình 3: Mở động mạch cảnh

Hình 4: endarterectomy (loại bỏ các mảng bám)

Hình 5: khâu trực tiếp

Hình 6 a, b và c: eversion endarterectomy (động mạch cảnh được quay trở lại như một chiếc vớ để loại bỏ các tấm)

Hình 6a

Hình 6b

Hình 6c

Hình 7: Vá cảnh

Hình 8: bắt cầu bằng động mạch nhân tạo.

Biến chứng rất hiếm và đã giảm đáng kể nhờ các biện pháp phòng ngừa trước và trong quá trình hoạt động. Quan trọng nhất là các biến chứng tim mạch và thần kinh, bao gồm cả nguy cơ đột quỵ, thoáng qua hoặc vĩnh viễn. Tỷ lệ biến chứng này được ước tính ở mức 2% cho hẹp động mạch cảnh người chưa bao giờ đưa ra bất kỳ triệu chứng (hẹp không có triệu chứng) và 4% đối với những người đã được (bị hẹp có triệu chứng). Các biến chứng khác theo thứ tự tần số: các vết bầm tím và thành tích của các dây thần kinh ngoại vi trong khi phẫu thuật. Các biến chứng có thể dẫn đến khó khăn trong việc nói hoặc nuốt một vài ngày. Họ là rất hiếm và thường biến mất trong vòng vài ngày hoặc vài tuần

Nong động mạch cảnh

Nong động mạch cảnh endoluminal (đi qua bên trong của động mạch) lđường vào từ động mạch đùi ở vùng háng, với sự ra đời của một nong bóng kết hợp với một ống đỡ động mạch (hình 9).Kỹ thuật này, theo các khuyến nghị mới nhất của Cơ quan cao cho y tế (HAS) chỉ áp dụng cho một số bệnh nhân.

Hình 9a, b và c: cảnh nong mạch vành

Hình 9a

Hình 9b

Hình 9c

   

hội chứng Marfan

Hội chứng Marfan và điều trị

Ngoại khoa:

Điều trị hội chứng Marfan bằng cách dãn gốc động mạch chủ dẫn tới bóc tách hoặc/và hở van động mạch chủ thường xảy ra đầu tiên ở xoang Valsalva.

Điều trị hội chứng Marfan bằng cách dãn gốc động mạch chủ

Các công trình nghiên cứu rút ra sự thống nhất ý kiến rằng điều trị ngoại khoa cấp cứu phình gốc động mạch chủ sớm có dự hậu tốt hơn là can thiệp trễ và đề nghị điều trị dự phòng khi đường kính xoang Valsalva lớn hơn 5.5cm ở người lớn và lớn hơn 5.0 cm ở trẻ em. Những yếu tố khác như là tỉ lệ phát triển của đường kính động mạch chủ và tiền sử gia đình có bóc tách ĐM chủ có thể được xem la yếu tố quan trọng, đánh giá độ căng động mạch chủ thì có giá trị tiên lương

Nội khoa:

ß Blockernên dùng ở bất kỳ bệnh nhân nào có dãn động mạch chủ ở bất kỳ tuổi nào , nhưng điều trị dự phòng có thể hiệu quả hơn khi ĐK ĐM chủ<40mm

Nguy cơ bóc tách gồm: ĐK ĐM chủ >50mm, dãn ra xa hơn xoang Valsalva, mức độ dãn nhanh (> 5% mỗi năm, hay 2mm/năm ở người lớn), và tiền sử gia đình có bóc tách ĐM chủ.

Bệnh nhân Marfan ở bất kỳ tuổi nào nên được đánh giá ít nhất mỗi năm về khám lâm sàng, bệnh sử và siêu âm tim thành ngực. Ỡ trẻ nhỏ, nên siêu âm tim mỗi 6 đến 12 tháng, tần suất dựa vào ĐK động mạch chủ ( theo diện tích bề mặt cơ thể) và mức độ tăng .

Bệnh nhân mắc hội chứng Marfan nên được gợi ý phẫu thuật gốc động mạch chủ dự phòng khi đường kính xoang Valsalva lớn hơn 5.5 cm ở người lớn và lớn hơn 5.0 cm ở trẻ em.

Bệnh nhân Marfan có thai thì nguy cơ bóc tách động mạch chủ gia tăng nếu ĐK động mạch chủ quá 4 cm. Những trường hợp này phải kiểm tra tim mạch thường xuyên trong suốt lúc mang thai và khi sinh nở. Có 2 vấn đề khi có thai là nguy cơ biến chứng tim mạch cho mẹ va ønguy cơ 50% truyền hội chứng Marfan cho con .

Hoạt động thể lực nhẹ đến vừa có thể chấp nhận ở hội chứng Marfan. Các môn thể thao có thể gây ra chấn động cho cơ thể thì khuyên nên tránh xa ( như môn bóng dầu dục, lặn , cỡi ngựa) do nguy cơ tim mạch và có thể làm nặng thêm di lệch tủy tinh thể. Các bệnh nhân có phẩu thuật gốc động mạch chủ hoặc thay van động mạch chủ, hoặc cả hai thì nên hạn chế nghiêm ngặt hơn, đặc biệt nếu đang sử dụng thuốc kháng đông. Lặn có thiết bị thở nên tránh vì có nguy cơ làm khởi phát tràn khí màng phổi.

   

Chăm sóc trẻ bị tim bẩm sinh

Chăm sóc trẻ bị bệnh tim bẩm sinh

Trẻ bị bệnh tim bẩm sinh tức là đã mang căn bệnh tim suốt đời từ khi trẻ bắt đầu những giây phút đầu tiên của sự sống. Trẻ sẽ mang căn bệnh nặng nề và nguy hiểm này, tuy nhiên sẽ càng nguy hiểm khi trẻ còn nhỏ. Vì vậy, các bậc phụ huynh phải biết cách chăm sóc trẻ bị bệnh tim bẩm sinh.

Chăm sóc trẻ bị bệnh tim bẩm sinh là chăm sóc trẻ từ thể chất đến tinh thần. Trẻ bị bệnh tim bẩm sinh phải ăn nhạt (không nêm mắm muối). Tuy nhiên chế độ ăn như vậy dẫn dến trẻ sẽ rất chán ăn, từ đó dẫn đến trẻ bị suy dinh dưỡng. Tình trạng này sẽ giảm dần khi trẻ lớn hơn nhưng đối với trẻ nhỏ, phụ huynh cần quan tâm và điều chỉnh chế độ ăn cân bằng, vừa giúp trẻ có thể ăn, vừa bảo vệ trẻ an toàn trước căn bệnh tim bẩm sinh.Đồng thời, các bậc phụ huynh cần tham khảo ý kiến bác sĩ để có cách chăm sóc trẻ bị bệnh tim bẩm sinh đúng cách, hợp lý và an toàn.

Những trẻ sử dụng thuốc lợi tiểu như Lasix (furosemide) sẽ dễ bị thiếu chất kali, nên ăn thêm những thực phẩm giàu kali như cam, chuối, nho, đu đủ, nước dừa,… Khi chăm sóc trẻ bị bệnh tim bẩm sinh cần hiểu được những đặc thù của bệnh và các biểu hiện của trẻ. Những trẻ mắc bệnh tim thường khó ăn do mệt, rất dễ nôn ói ngay sau khi ăn. Vì vậy, bạn nên cho trẻ ăn từ từ, chủ yếu bằng thìa, ăn nhiều bữa, mỗi bữa ít hơn bình thường; đồng thời theo dõi sát việc lên cân của trẻ để có chế độ dinh dưỡng hợp lý. Đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, các bà mẹ nên chia số lần bú sữa của trẻ nhiều hơn trẻ bình thường để giúp trẻ hấp thu tốt hơn và bảo vệ trẻ an toàn hơn với bệnh tim bẩm sinh.

Tuy nhiên, ngoài những yêu cầu đặc biệt cho việc chăm sóc trẻ bị bệnh tim bẩm sinh, các bậc phụ huynh cần giữ thái độ, ứng xử với trẻ như với những đứa trẻ bình thường khác. Việc quá chăm bẩm, quá lo lắng cho tình trạng sức khoẻ của trẻ sẽ khiến trẻ cảm thấy mình bị yếu đuối, thiếu các kỹ năng tự bảo vệ, tự ti, mặc cảm.

   

Những dấu hiệu gợi ý trẻ bị mắc bệnh tim bẩm sinh

CÁC DẤU HIỆU CƠ NĂNG GỢI Ý TRẺ MẮC BỆNH TIM BẨM SINH
Có các dấu hiệu thường gặp: trẻ chậm lớn,ít vận động, hay viêm phế quản, và nhiều mồ hôi, và tím. Có những dấu hiệu khác ít gặp hơn: ngất, đau ngực khi gắng sức, phù, tắc mạnh, huyết khối.
3.1. Chậm lớn: Hay gặp ở nhóm có luồng thông trái - phải không tím, ít gặp ở nhóm có tím.
3.2. Lười vận động: Gợi ý bằng dấu hiệu thở dốc hay tím khi gắng sức. Trẻ sơ sinh ăn chậm và lười, trẻ lớn ít tham gia các hoạt động ở trường học.
3.3. Hay viêm phế quản: Hay thở nhanh, thậm chí khó thở - hay gặp trong luồng thông trái - phải không tím.
3.4. Ra nhiều mồ hôi: Hay gặp khi có suy tim do luồng thông trái - phải nhiều.
3.5. Tím: là hiện tượng tím da và niêm mạc, xuất hiện khi bão hoà ôxy 96%. Như vậy, cần lưu ý là có 1 vùng - dù thiếu ôxy, nhưng không biểu hiện tím trên lâm sàng.
3.6. Cơn ngất tím: Hay gặp nhất trong Fallot 4 thể nặng
Biểu hiện: Giai đoạn đầu trẻ kích thích, quấy khóc và tim nhanh, sau đó xuất hiện tím đen, thở rất nhanh, trẻ xỉu đi, mạnh rất nhanh ...
3.7. Đau ngực: Có thể là bình thường ở trẻ em, tuy nhiên có thể gặp trong dị dạng mạch vành, hoặc có viêm màng tim.

   
16-11-2012_4-02-56_PM

Chăm sóc bệnh nhân van tim nhân tạo

Chăm sóc bệnh nhân van tim nhân tạo

Một van tim nhân tạo được coi là lý tưởng khi nó đảm bảo các điều kiện dễ lắp đặt, bền, không bị đông máu trên van, có hiệu quả huyết động, không gây tan máu, tương đối rẻ tiền... Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một van tim nhân tạo nào hoàn hảo như vậy. Sau khi thay van, bệnh nhân cần được thăm khám thường xuyên và dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ.

Thăm khám lần đầu sau khi phẫu thuật thay van

Sau khi được phẫu thuật thay van từ 3 - 4 tuần, người bệnh cần đi khám lại lần đầu tiên. Mục đích để đánh giá chức năng van tim nhân tạo; Đánh giá hiệu quả của thuốc chống đông máu; Phát hiện dấu hiệu tan máu; Phát hiện các dấu hiệu nhiễm khuẩn; phát hiện các dấu hiệu khác: nhồi máu cơ tim, rối loạn dẫn truyền; Đánh giá tình trạng toàn thân, tâm thần kinh của bệnh nhân khi mang van tim nhân tạo

Khi khám lâm sàng cần chú ý nghe tiếng van nhân tạo. Nếu không có tiếng kêu của van cơ học, cần nghĩ đến huyết khối hình thành trên vòng van cơ học. Nếu bệnh nhân trước khi thay van bị viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn thì cần chú ý đến những dấu hiệu toàn thân như da xanh, niêm mạc, nhiệt độ, tiền sử sốt kéo dài.

Những thăm dò, xét nghiệm cần thực hiện

- Điện tâm đồ

- Chụp Xquang tim phổi thẳng.

- Siêu âm Doppler tim: rất quan trọng. Siêu âm cho biết những thông tin về hẹp/hở van, đánh giá các tổn thương phối hợp, kích thước nhĩ trái, thất trái, chức năng tim, tình trạng màng ngoài tim, áp lực động mạch phổi. Siêu âm rất quan trọng đối với bệnh nhân vì nó cho phép đánh giá hiệu quả điều trị phẫu thuật cũng như những thông số cơ bản giúp cho sự theo dõi về sau.

- Công thức máu, tiểu cầu.

- Sinh hóa máu: urê, đường, creatinin, điện giải đồ, men LDH.

- Đông máu: tỷ lệ prothrombin, INR.

Các van tim nhân tạo đều có một mức độ hẹp nhất định và vì thế thông số siêu âm lần đầu được coi là những thông số cơ bản giúp cho việc so sánh về sau. Một số thăm dò không chảy máu khác (ví dụ cộng hưởng từ tim) có tác dụng đánh giá hoạt động của van và chức năng thất trái nhưng chỉ tiến hành đối với những chỉ định đặc biệt. Soi hoạt động van dưới màn tăng sáng chỉ có hiệu quả đối với van Bjork-Shiley. Chụp cộng hưởng từ hoặc chụp động mạch phóng xạ hạt nhân (radionuclide angiography) chỉ định đối với những bệnh nhân rối loạn hoạt động van nhân tạo do suy chức năng tâm thu thất trái và một số thông số không lấy được trên siêu âm tim. Cộng hưởng từ hạt nhân được khuyến cáo là an toàn đối với tất cả các van nhân tạo được lưu hành hiện nay.

Phẫu thuật thay van tim

Theo dõi bệnh nhân không có biến chứng

Đối với bệnh nhân mang van nhân tạo có tình trạng lâm sàng ổn định thì mục đích quan trọng nhất của khám định kỳ là theo dõi hiệu quả của thuốc chống đông kháng vitamin K vì tỷ lệ INR biến đổi nhiều dưới ảnh hưởng của thức ăn, tương tác với những thuốc được dùng đồng thời cũng như tình trạng toàn thân của người bệnh... Cần xét nghiệm INR tối thiểu mỗi tháng 1 lần và làm lại ngay khi có những dấu hiệu bất thường trên lâm sàng hay mỗi khi thay đổi liều lượng thuốc chống đông máu. Mục đích quan trọng tiếp theo là tiếp tục giáo dục, phổ biến kiến thức cho người bệnh giữ gìn van tim nhân tạo, nhất là tránh nhiễm trùng van nhân tạo (kiến thức về phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn).

Mỗi năm một lần người bệnh nên được làm lại các xét nghiệm: Điện tâm đồ; Chụp tim phổi; Huyết học: hemoglobin, hematocit, LDH; Siêu âm Doppler tim.

Theo dõi bệnh nhân có biến chứng

Bệnh nhân bị suy chức năng tâm thu thất trái sau phẫu thuật thay van nên được điều trị nội khoa chống suy tim. Điều trị nội khoa vẫn phải tiếp tục cho dù chức năng tâm thu thất trái được cải thiện.

Nguyên nhân của suy chức năng tâm thu thất trái và suy tim lâm sàng sau phẫu thuật có thể do: Suy tim trước mổ và sau mổ chỉ được cải thiện một phần; Cơ tim bị tổn thương trong quá trình phẫu thuật; Bệnh lý van tim khác tiến triển; Biến chứng của van nhân tạo; Các bệnh tim phối hợp khác như bệnh mạch vành, tăng huyết áp.

Bất kỳ bệnh nhân van nhân tạo nào không cải thiện hoặc có biểu hiện suy giảm chức năng tim sau phẫu thuật đều phải được thăm khám lâm sàng tỉ mỉ và làm đầy đủ các xét nghiệm thăm dò, nhất là siêu âm tim hoặc siêu âm tim qua thực quản hay thông tim, chụp mạch để xác định nguyên nhân.

Phẫu thuật thay van nhân tạo: Phẫu thuật thay van nhân tạo là một tình trạng lâm sàng nghiêm trọng. Chỉ định đối với những trường hợp: Rối loạn nặng nề hoạt động của van nhân tạo (do cấu trúc van hoặc do những biến cố khác không liên quan đến cấu trúc van): vỡ van, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn van nhân tạo; Huyết khối hình thành trên van gây kẹt van nhân tạo; Chảy máu nặng do dùng thuốc chống đông (đòi hỏi phải thay van cơ học bằng van sinh học); Hẹp van động mạch chủ sau khi thay van tình trạng lâm sàng không được cải thiện, bệnh nhân suy tim dai dẳng mặc dù đã được điều trị nội khoa tích cực, thăm dò cho thấy van hoạt động không đảm bảo huyết động cho người bệnh (ví dụ: vòng van quá nhỏ).

Tất cả người bệnh sử dụng van tim nhân tạo cần được thăm khám định kỳ, dùng thuốc đầy đủ theo đúng chỉ định của bác sĩ, nếu có những dấu hiệu sức khỏe bất thường cần đi khám ngay tại các cơ sở y tế chuyên khoa tim mạch để được xử trí kịp thời.

TS. Tạ Mạnh Cường

   

Sự kỳ diệu của cuộc sống

Sự kỳ diệu của cuộc sống
Ở tuổi 64 bệnh suy tim nặng, ông Thiện ở Lai Xá, Hoài Đức, Hà Nội từng nghĩ mình không còn sống được bao lâu, vì thế ông đã từ chối phẫu thuật. Các bác sĩ đã phân tích và tư vấn rằng ngoài phẫu thuật ra ông còn cách nào để duy trì nhịp đập của trái tim bệnh tật ấy nữa. Các con ông đều bảo: “Sức khỏe của bố là tài sản của con cháu, bố phải quyết tâm, đừng bỏ cuộc”.
Ông Lương Ngọc Thiện bên hành lang phòng bệnh trong giai đoạn phục hồi.
Ông Thiện lên bàn mổ, ca mổ thành công. Nhưng sau phẫu thuật ông rơi vào trạng thái “tây phương cực lạc”, nhiều ngày vẫn mê man bất tỉnh. Bản thân những người thân từng động viên ông mổ cũng cảm thấy day dứt và tuyệt vọng…Nửa tháng trời nằm ở phòng cách ly vợ con không được thăm nom, sau khi tỉnh dậy ông Thiện kể lại: “Tôi tưởng mình đã xanh cỏ rồi, thời điểm hôn mê sâu tôi thấy qủy sứ vây quanh mình, nhưng rồi có một sức mạnh nào đó đã kéo tôi trở lại và tôi đã dần hồi tỉnh. Giờ đi lại được thế này mới thấy cuộc sống kỳ diệu biết bao”.
Giờ nhìn ông bước đi từng bước vững vàng trong hành lang phòng bệnh những người thân đều thở phào nhẹ nhõm. Tuổi cao, thời gian hôn mê kéo dài nên ông Thiện gặp nhiều biến chứng sau mổ, suy thận, tiểu đường…bât chấp tất cả, từng ngày, từng giờ người đàn ông ấy vẫn kiên trì chống chọi để thoát khỏi bệnh tật. Theo các bác sĩ: "Người cao tuổi bệnh tim mạch sẽ kéo theo hàng loạt biến chứng khác ngoài việc đối mặt với diễn biến phức tạp của bệnh tật, người bệnh phải làm chủ được những diễn biến về mặt tâm lý để vượt qua khó khăn của chính mình”.
Hơn 70 ngày mổ, điều trị tại khoa phẫu thuật Tim mạch của bệnh viện Việt Đức, trong cơn mê sảng, đã có lúc bệnh nhân Lượng Ngọc Thiện đã nhìn thấy quỷ sứ hiện về… Ông cười bảo: ‘Tôi sống được là nhờ số phận, nhờ tài năng của các bác sĩ…tôi vô cùng biết ơn họ”.

Hương Trần (Xzone/TTTĐ

   

Cách làm giảm khả năng bị bệnh tim

Cách làm giảm khả năng bị bệnh tim

Các nhà khoa học cho biết tim mạch là bệnh tiền ẩn, ai cũng có thể mắc nhưng ở mức độ nặng nhẹ khác nhau. Theo thống kê tại Mỹ cứ một phút lại có một phụ nữ qua đời vì bệnh tim. Trên thế giới mỗi năm có 17 triệu người tử vong vì bệnh tim mạch, những người có thời gian làm việc từ 11 đến 12 tiếng/ngày có thể đối mặt với nguy cơ bệnh tim mạch.

Theo các chuyên gia nguyên nhân mắc bệnh tim thường thấy ở người hút nhiều thuốc lá, người có chế độ dinh dưỡng không phù hợp, ăn nhiều mỡ nhất là những loại mỡ có nhiều cholesteron như mỡ động vật, kem sữa.. dễ làm tắc nghẽn động mạch. Đồng thời những cơn căng thẳng và giận dữ, stress kéo dài, môi trường ô nhiễm cũng dễ làm tổn hại đến trái tim… Từ việc xác định nguyên nhân của bệnh tim, bạn hoàn toàn có thể phòng tránh và giảm thiểu nguy cơ bị bệnh tim bằng cách

   

Người cao huyết áp sinh hoạt như thế nào

Cao huyết áp là một bệnh kéo dài. Thường cho rằng bệnh này là do kích thích ở bên ngoài quá mạnh, lặp đi lặp lại nhiều lần trong thời gian dài làm cho công năng vỏ não rối loạn, mất đi sự điều tiết bình thường của huyết quản mà gây nên bệnh huyết áp cao.

Huyết áp lên quá 140/90 cột thủy ngân được coi là cao huyết áp. Người bệnh thường có triệu chứng đâu đầu, hoa mắt, tim đập nhanh, mất ngủ, công năng thận suy giảm

Tìm hiểu về các chỉ số huyết áp

   

100 câu hỏi thắc mắc bệnh tim mạch

Câu hỏi 1: Tôi hay bị hồi hộp đánh trống ngực, đó có phải là bị bệnh tim mạch không? Xin cho biết những biểu hiện thường gặp của bệnh tim mạch?
Câu hỏi 2: Các biểu hiện cảnh báo bệnh tim mạch cần cấp cứu là gì? Xin cho biết cách phát hiện và đối phó khi gặp tình huống đó?
Câu hỏi 3: Bệnh tim có di truyền không? Chồng mới cưới của em gái tôi bị bệnh hở van hai lá do thấp tim, vậy cháu tôi có thể bị bệnh tim không?
Câu hỏi 4: Động mạch vành là gì? Chức năng của nó ra sao?
Câu hỏi 5: Tôi 30 tuổi, nhịp tim thường xuyên 90 nhịp/phút, vậy có làm sao không?
Câu hỏi 6: Những nguyên nhân nào gây ra bệnh tim mạch?
Câu hỏi 7: Tôi năm nay 50 tuổi, tiền sử khỏe mạnh, hút thuốc lá, huyết áp 150/60 mmHg. Khả năng tôi bị bệnh tim như thế nào? Làm sao ước tính được nguy cơ bị bệnh tim mạch?
Câu hỏi 8: Hút thuốc lá ảnh hưởng đến tim mạch như thế nào? Tôi đang hút thuốc nhưng muốn bỏ khó quá, có cách nào giúp bỏ thuốc lá không?
Câu hỏi 9: Tôi 57 tuổi, nam giới, cao 167 cm nặng 75 kg. Như vậy có béo quá không? ảnh hưởng đến bệnh tim mạch không?
Câu hỏi 10: Tôi béo quá (45 tuổi, cao 157 cm nặng 89 kg). Tôi muốn giảm cân nhưng khó quá, có thuốc nào giảm cân tốt không? Làm thể nào để giảm cân hiệu quả?
Câu hỏi 11: Tại sao và Nên tập thể dục như thế nào là tốt cho tim mạch?
Câu hỏi 12: Chế độ ăn uống như thế nào là tốt cho bệnh tim mạch?
Tôi bị bệnh động mạch vành mạn tính đang dùng thuốc theo đơn bác sỹ. Gần đây tôi được giới thiệu nhiều về các thực phẩm chức năng? Xin cho biết có thể dùng thực phẩm chức năng này thay được không? lợi ích thực sự với bệnh tim mạch như thế nào?
Câu hỏi 14: Uống rượu có ảnh hưởng đến tim mạch không?
Câu hỏi 15: Uống café có ảnh hưởng đến tim mạch không?
Câu hỏi 16: Tôi bị bệnh tim, có nên tránh ra ngoài khi thời tiết lạnh quá không?
Câu hỏi 17: Lo lắng có ảnh hưởng đến bệnh tim mạch không?
Câu hỏi 18: Bố tôi 85 tuổi, huyết áp là 160/80 mmHg, có phải là bình thường theo tuổi không? Xin cho biết phân mức độ THA.
Câu hỏi 19: Nguyên nhân gây ra THA là gì?
Câu hỏi 20: THA ảnh hưởng gì?

Câu hỏi 21: Tôi năm nay 35 tuổi, nữ giới, HA là 170/90 mmHg. Như vậy có phải bị THA nặng không? Tôi phải làm gì?
Câu hỏi 22: Tôi bị THA, cần phải ăn uống và tập luyện như thế nào?
Câu hỏi 23: Tôi bị THA, uống thuốc huyết áp thì đo HA về bình thường. Tôi có thể dừng uống thuốc không?
Câu hỏi 24: Tôi nam giới 60 tuổi, bị THA, bác sỹ kê đơn Betaloc ZOK 50 mg/ngày. Xin hỏi nếu uống thuốc này lâu dài có lo ngại gì không?
Câu hỏi 25: Tôi bị THA, có thể hoạt động tình dục được không?
Câu hỏi 26: Tôi 50 tuổi, nam giới, vừa qua được khám sức khỏe định kỳ, bác sỹ có nói là mỡ trong máu cao, nhưng tôi lại thấy có một thành phần HDL-C thấp hơn bình thường, vậy có đúng không? Xin cho biết các thành phần trong mỡ máu và ảnh hưởng đến các bện
Câu hỏi 27: Tôi được chẩn đoán là rối loạn lipid máu, xin cho biết chế độ ăn uống và tập luyện như thế nào để phòng tránh?
Câu hỏi 28: Tôi đang được dùng thuốc hạ lipid máu tên là Crestor 10 mg/ngày. Xin cho biết lợi ích và những tác dụng phụ? Có những loại thuốc nào khác điều trị được bệnh này không?
Câu hỏi 29: Tôi bị bệnh đái tháo đường và động mạch vành đã được đặt stent 2 năm, hiện nay đang được điều trị bằng thuốc hạ lipid máu, nhưng hiện nay xét nghiệm thấy LDL-C đã là 2,3 mmol/l, như vậy đã ổn chưa, tôi có thể dừng thuốc được không?
Câu hỏi 30: Tôi được chẩn đoán bị bệnh đái tháo đường. Nguy cơ tôi bị bệnh tim mạch có cao không? Tại sao?
Câu hỏi 31: Tôi đang bị bệnh tim, có tập thể dục được không? Tập như thế nào?
Câu hỏi 32: Tôi bị bệnh tim đang điều trị, có thể hoạt động tình dục được không?
Câu hỏi 33: Em gái tôi 25 tuổi, được chẩn đoán bị bệnh tim bẩm sinh chưa điều trị gì. Em gái tôi muốn lấy chồng và có con được không?
Câu hỏi 34: Tôi nữ giới 27 tuổi hay bị đau nhói ngực, có phải bị đau tim không? có phải là bị bệnh động mạch vành không?
Câu hỏi 35: Tôi nghe nói bị bệnh động mạch vành rất nguy hiểm? có các loại bệnh động mạch vành như thế nào? Làm sao biết tôi có bị bệnh động mạch vành hay không?
Câu hỏi 36: Có khi nào bị bệnh động mạch vành mà không đau ngực không?
Câu hỏi 37: Nữ giới có thể bị bệnh động mạch vành không?
Câu hỏi 38: Nguyên nhân gây bệnh động mạch vành là gì?
Câu hỏi 39: Làm thế nào ngăn ngừa bệnh động mạch vành?
Câu hỏi 40: Dấu hiệu nào phải chú ý là có thể bị Nhồi máu cơ tim?
Câu hỏi 41: Phải làm gì khi bản thân hoặc người nhà bị cơn đau ngực trái đột ngột?
Câu hỏi 42: Tôi đã được chẩn đoán là đau thắt ngực ổn định? Tôi rất lo lắng, xin cho biết bệnh này là gì? Tại sao tôi lại bị?
Câu hỏi 43: Tôi đã được chẩn đoán là đau thắt ngực ổn định? Bệnh này có chữa được không? Chữa như thế nào?
Câu hỏi 44: Xin phân biệt giữa đau thắt ngực ổn định và không ổn định?
Câu hỏi 45: Tôi đã được đặt stent động mạch vành loại phủ thuốc? Xin cho hỏi stent này tồn tại được bao lâu? Có nguy cơ gì không?
Câu hỏi 46: Tôi đã được đặt stent động mạch vành? Tôi có phải uống thuốc tiếp tục không?
Câu hỏi 47: Tôi bị bệnh động mạch vành, đã được đặt stent động mạch vành được 1 tháng, sức khỏe thấy ổn định? Tôi có đi du lịch được không?
Câu hỏi 48: Xin cho biết đặt stent động mạch vành là gì? Làm như thế nào?
Câu hỏi 49: Tôi bị nhồi máu cơ tim cấp, đã được can thiệp đặt stent động mạch vành? Sau bao lâu tôi có thể đi làm trở lại được?
Câu hỏi 50: Bị đau ngực đột ngột nghi nhồi máu cơ tim cấp? có thể dùng các thuốc đông y (như viên An cung hoàn) để cho cấp cứu không?
Câu hỏi 51: Tôi bị bệnh động mạch vành và được chỉ định phẫu thuật làm cầu nối, hiện rất lo lắng. Xin cho hỏi phẫu thuật này là gì? Có nguy hiểm không?
Câu hỏi 52: Tôi đã được phẫu thuật làm cầu nối động mạch vành? Vậy phải tiếp tục tập luyện, ăn uống, thuốc men thế nào?
Câu hỏi 53: Tôi bị bệnh động mạch vành, bác sỹ nói cần dùng aspirin suốt đời. Như vậy có nguy cơ gì không?
Câu hỏi 54: Tôi bị bệnh động mạch vành, có thể chơi thể thao được không?
Câu hỏi 55: Tôi bị bệnh động mạch vành, khi đi du lịch cần lưu ý gì, mang theo thuốc gì?
Câu hỏi 56: Sau khi chụp động mạch vành, bác sỹ bảo tôi bị hẹp 50% một nhánh. Điều này có nguy hiểm không? Có thuốc nào làm hết hẹp động mạch vành không?
Câu hỏi 57: Các biện pháp nào để xác định bị bệnh động mạch vành?
Câu hỏi 58: Xin cho biết các biện pháp chữa bệnh động mạch vành?
Câu hỏi 59: Bệnh thấp tim là gì? Nguyên nhân gây bệnh? Bệnh có nguy hiểm không?
Câu hỏi 60: Con tôi 8 tuổi bị sưng đau khớp gối 2 bên, như vậy có phải cháu bị bệnh thấp tim hay không? Làm thế nào xác định được?
Câu hỏi 61: Con tôi được chẩn đoán bệnh thấp tim, bác sỹ nói cần tiêm phòng lâu dài? Vậy tiêm phòng thấp tim có tác dụng gì? Có nguy hiểm gì không? Tiêm đến khi nào?
Câu hỏi 62: Van tim là gì? Bệnh van tim là gì?
Câu hỏi 63: Có những bệnh van tim nào ?
Câu hỏi 64: Làm thế nào phát hiện mình bị bệnh van tim ?
Câu hỏi 65: Em tôi bị bệnh hẹp van hai lá ? Có phải là bệnh di truyền không ? Bệnh này như thế nào ?
Câu hỏi 66: Cháu tôi bị bệnh hẹp van hai lá, có chữa được không ? Có những biện pháp nào để điều trị?
Câu hỏi 67: Bệnh hở van hai lá khác hẹp van hai lá như thế nào ? Nguyên nhân gây bệnh hở van hai lá ?
Câu hỏi 68: Bệnh hở van tim (Hở van hai lá) có nguy hiểm không ? Có phải mổ không ?
Câu hỏi 69: Tôi hoàn toàn khoẻ mạnh, khám sức khoẻ định kỳ được làm siêu âm tim phát hiện hở van hai lá rất nhẹ, hở van ba lá nhẹ. Vậy có nguy hiểm không ? Tôi phải làm gì ?
Câu hỏi 70: Tôi bị bệnh van tim được phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học đã 2 năm, hiện khoẻ mạnh, vậy tôi có thể giảm liều thuốc chống đông được không ? Theo dõi như thế nào ?
Câu hỏi 71: Tôi đang dùng thuốc chống đông máu, vậy cần phải lưu ý những gì ?
Câu hỏi 72: Tôi thấy hồi hộp trống ngực, đi khám được phát hiện rung nhĩ, như vậy có nguy hiểm không ? Tôi phải làm gì?
Câu hỏi 73: Tôi bị nhịp chậm, đã được cấy máy tạo nhịp tim, xin giải thích rõ về hoạt động máy tạo nhịp tim và tôi phải lưu ý gì trong cuộc sống ?
Câu hỏi 74: Tôi bị phù chân khi đứng và đau buốt, tối lại đỡ, như vậy có phải bị bệnh mạch máu không? Tôi phải làm gì?
Câu hỏi 75: Tôi bị đau bắp chân mỗi khi đi lại, đó có phải bị bệnh động mạch không ?
Câu hỏi 76: Những nguy cơ gây bệnh tắc động mạch chi dưới ?
Câu hỏi 77: Tôi được chẩn đoán là đau cách hồi (hẹp động mạch chân), xin cho hỏi các phương pháp điều trị, phòng bệnh ?
Câu hỏi 78: Tôi nghe nói bệnh tai biến mạch não rất nguy hiểm, Tai biến mạch não là gì? Có mấy loại? Nguyên nhân gây bệnh là gì?
Câu hỏi 79: Khi bị tai biến mạch não có biểu hiện như thế nào ? Phải làm gì khi nghi bị tai biến mạch não ?
Câu hỏi 80: Xin cho hỏi chế độ tập luyện, phục hồi sau khi bị tai biến mạch não ?
Câu hỏi 81: Cháu tôi mới đẻ ra bị tím, vậy có phải bị bệnh tim bẩm sinh không? Bệnh tim bẩm sinh có di truyền không?
Câu hỏi 82: Bệnh tim bẩm sinh là nguy hiểm có đúng không? Có những loại bệnh tim bẩm sinh nào?
Câu hỏi 83: Con tôi bị nghi là bệnh tim bẩm sinh? Tôi phải làm gì đây?
Câu hỏi 84: Bệnh còn ống động mạch là gì? Điều trị như thế nào?
Câu hỏi 85: Bệnh thông liên thất là gì? Điều trị như thế nào?
Câu hỏi 86: Bệnh thông liên nhĩ là gì? Điều trị như thế nào?
Câu hỏi 87: Con tôi được chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh, hãy chỉ cho tôi cách chăm sóc cháu và chung sống với bệnh?
Câu hỏi 88: Cháu tôi đi khám bị nghi bệnh tim bẩm sinh, bác sỹ chỉ định cần làm siêu âm tim, siêu âm tim có hại không? Làm như thế nào? Và lợi ích ra sao?
Câu hỏi 89: Cháu tôi đi khám bị nghi bệnh tim bẩm sinh, bác sỹ chỉ định cần làm thông tim thăm dò huyết động, thông tim thăm dò huyết động là gì? Có nguy hiểm không? Cháu tôi phải chuẩn bị như thế nào?
Câu hỏi 90: Tôi được biết hiện nay có phương pháp chụp động mạch vành qua đường ống thông để chẩn đoán chính xác bệnh động mạch vành, phương pháp này như thế nào? Có nguy hiểm không? Khi nào cần làm và chuẩn bị ra sao?
Câu hỏi 91: Can thiệp động mạch vành là gì? Nong động mạch vành là gì? Đặt stent động mạch vành là gì? Khi nào cần làm? Làm như thế nào? Chuẩn bị ra sao?
Câu hỏi 92: Khi nào thì cần phẫu thuật làm cầu nối động mạch vành? Phẫu thuật này như thế nào? Có nguy hiểm không?
Câu hỏi 93: Có phải mọi bệnh tim bẩm sinh đều phải phẫu thuật mới chữa được hay không? Có biện pháp can thiệp nào khác không cần phẫu thuật không?
Câu hỏi 94: Vợ tôi bị bệnh tim (bệnh hẹp van tim) vậy vợ tôi có thể mang thai được không?
Câu hỏi 95: Chúng tôi mới lấy nhau, vợ tôi đang có thai 3 tháng, nhịp tim nhanh 100 lần trong một phút, như vậy có sao không?
Câu hỏi 96: Vợ tôi mới có thai lần đầu, khi được 4 tháng đi khám phát hiện vợ tôi bị bệnh hẹp van hai lá, chúng tôi rất băn khoăn không biết nên làm gì đây? Có thể để đẻ được không?
Câu hỏi 97: Tôi bị khó thở khi làm việc nặng, như vậy có phải bị suy tim không? Làm sao phát hiện được mình có bị suy tim không?
Câu hỏi 98: Nguyên nhân nào dẫn đến suy tim? Các mức độ suy tim như thế nào?
Câu hỏi 99: Tôi được chẩn đoán suy tim, chế độ ăn uống sinh hoạt và thuốc men như thế nào
Câu hỏi 100: Xin cho biết triển vọng của phương pháp điều trị bằng tế bào gốc trong các bệnh tim mạch hiện nay?


   

Phòng bệnh tim mạch ở phụ nữ

Cách phòng ngừa bệnh tim mạch ở phụ nữ

Khoa học đã chứng minh rằng ở độ tuổi sinh nở, hệ thống tim mạch của phụ nữ được bảo vệ bởi các hormone sinh dục nữ (estrogen).

Phụ nữ bị mắc các bệnh tim mạch muộn hơn nam giới. Khoa học đã chứng minh rằng ở độ tuổi sinh nở, hệ thống tim mạch của phụ nữ được bảo vệ bởi các hormone sinh dục nữ (estrogen), các hormone sinh dục này có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol của cơ thể, bảo vệ thành mạch và tim. Phụ nữ qua sinh đẻ thì hệ thống tim mạch càng được bảo vệ tốt hơn.

   

gigigi

2013-09-12 191209

Tiện ích